Tiên lượng
Tiên lượng phụ thuộc vào tuổi, tình trạng hoạt động, LDH huyết thanh, giai đoạn bệnh lâm sàng và có hay không có tổn thương ngoài hạch. Hơn 2 yếu tố tiên lượng làm tăng nguy cơ tái phát và giảm sống còn toàn bộ. Chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) chỉ được chỉ định cho những bệnh nhân nghi ngờ tái phát bệnh, và không phải là phương tiện theo dõi thường quy. Bệnh nhân đang điều trị với alemtuzumab nên được theo dõi tái hoạt hóa CMV bằng xét nghiệm PCR định lượng mỗi 2-3 tuần trong quá trình điều trị và trong 2 tháng sau khi kết thúc điều trị.
Non-Hodgkins Lymphoma_Follow Up
Tiêu chí đánh giá đáp ứng Lugano dành cho NHL
Chụp cắt lớp phát xạ positron nên được thực hiện đồng thời hoặc riêng biệt với CT chẩn đoán có cản quang ở những bệnh nhân nghi ngờ bệnh tái phát.
Đáp ứng hoàn toàn (CR)
Điểm PET-CT là 1, 2 hoặc 3, có hoặc không có khối tồn lưu trên thang 5 điểm (5-PS), không có bằng chứng về bệnh tăng hấp thu FDG trong tủy xương hoặc trên CT, các hạch/khối hạch mục tiêu phải giảm còn ≤1,5 cm ở đường kính ngang dài nhất của tổn thương (LDi) mà không có vị trí bệnh ngoài hạch, sự phì đại của các cơ quan phải giảm kích thước về bình thường, với hình thái bình thường của tủy xương.
Đáp ứng một phần (PR)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 với sự giảm hấp thu FDG so với ban đầu, không có tổn thương tiến triển mới và hấp thu FDG ở tổn thương tồn lưu cao hơn ở tủy xương bình thường, nhưng giảm so với ban đầu hoặc trên CT giảm ≥50% tổng tích của các đường kính vuông góc đối với nhiều tổn thương (SPD) của tối đa 6 hạch mục tiêu có thể đo được và các vị trí ngoài hạch, không có hoặc không tăng tổn thương không đo được và chiều dài lách giảm >50% so với bình thường.
Không có đáp ứng hoặc bệnh ổn định (SD)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 mà không có thay đổi đáng kể nào về hấp thu FDG so với ban đầu tại thời điểm gian kỳ hoặc kết thúc điều trị, không có tổn thương mới hoặc tiến triển và không có thay đổi nào ở tủy xương so với ban đầu hoặc trên CT giảm <50% SPD so với ban đầu của tối đa 6 hạch có thể đo được và các vị trí ngoài hạch, không có bằng chứng về tiến triển bệnh.
Bệnh tiến triển (PD)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 với cường độ hấp thu FDG tăng so với ban đầu và/hoặc các ổ hấp thu FDG mới phù hợp với lymphôm khi đánh giá gian kỳ hoặc kết thúc điều trị hoặc
Trên CT có ≥1 các tiêu chuẩn sau:
Thang đo 5 điểm PET (5-PS) dựa trên đánh giá trực quan về sự hấp thu FDG ở các vị trí tổn thương so với gan và trung thất:
Tài liệu tham khảo: National Comprehensive Cancer Network (NCCN). NCCN clinical practice guidelines in oncology: B-cell lymphomas. Version 3.2024. Sep 2024 and Lewis WD, Lilly S, Jones KL. Lymphoma: Diagnosis and treatment. Am Fam Physician. 2020 Jan 1;101(1):34-41.
Chuyển dạng mô học
Chuyển dạng mô học thành DLBCL có thể xảy ra với FL hoặc MZL. Chuyển dạng mô học của FL hoặc MZL thành DLBCL sau khi điều trị tối thiểu hoặc không điều trị trước đó, có thể được điều trị với các phác đồ hóa trị dựa trên anthracycline được khuyến cáo dành cho điều trị bước một DLBCL, trừ khi có chống chỉ định, kèm hoặc không kèm với ISRT. Bệnh nhân mắc FL hoặc MZL thể hạch với điều trị tối thiểu hoặc không điều trị trước đó, với chuyển dạng mô học thành DLBCL có thể được theo dõi hoặc tham gia vào thử nghiệm lâm sàng, nếu đáp ứng hoàn toàn với điều trị ban đầu, hoặc có thể được điều trị bước hai nếu có đáp ứng một phần hoặc không đáp ứng với điều trị ban đầu.
Bệnh nhân mắc FL hoặc MZL thể hạch có chuyển dạng mô học thành DLBCL sau nhiều bước điều trị trước đó, bao gồm ≥2 phác đồ hóa miễn dịch dành cho bệnh diễn tiến chậm hoặc bệnh chuyển dạng, có các lựa chọn điều trị sau:
Non-Hodgkins Lymphoma_Follow UpTiêu chí đánh giá đáp ứng Lugano dành cho NHL
Chụp cắt lớp phát xạ positron nên được thực hiện đồng thời hoặc riêng biệt với CT chẩn đoán có cản quang ở những bệnh nhân nghi ngờ bệnh tái phát.
Đáp ứng hoàn toàn (CR)
Điểm PET-CT là 1, 2 hoặc 3, có hoặc không có khối tồn lưu trên thang 5 điểm (5-PS), không có bằng chứng về bệnh tăng hấp thu FDG trong tủy xương hoặc trên CT, các hạch/khối hạch mục tiêu phải giảm còn ≤1,5 cm ở đường kính ngang dài nhất của tổn thương (LDi) mà không có vị trí bệnh ngoài hạch, sự phì đại của các cơ quan phải giảm kích thước về bình thường, với hình thái bình thường của tủy xương.
Đáp ứng một phần (PR)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 với sự giảm hấp thu FDG so với ban đầu, không có tổn thương tiến triển mới và hấp thu FDG ở tổn thương tồn lưu cao hơn ở tủy xương bình thường, nhưng giảm so với ban đầu hoặc trên CT giảm ≥50% tổng tích của các đường kính vuông góc đối với nhiều tổn thương (SPD) của tối đa 6 hạch mục tiêu có thể đo được và các vị trí ngoài hạch, không có hoặc không tăng tổn thương không đo được và chiều dài lách giảm >50% so với bình thường.
Không có đáp ứng hoặc bệnh ổn định (SD)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 mà không có thay đổi đáng kể nào về hấp thu FDG so với ban đầu tại thời điểm gian kỳ hoặc kết thúc điều trị, không có tổn thương mới hoặc tiến triển và không có thay đổi nào ở tủy xương so với ban đầu hoặc trên CT giảm <50% SPD so với ban đầu của tối đa 6 hạch có thể đo được và các vị trí ngoài hạch, không có bằng chứng về tiến triển bệnh.
Bệnh tiến triển (PD)
Điểm PET-CT là 4 hoặc 5 với cường độ hấp thu FDG tăng so với ban đầu và/hoặc các ổ hấp thu FDG mới phù hợp với lymphôm khi đánh giá gian kỳ hoặc kết thúc điều trị hoặc
Trên CT có ≥1 các tiêu chuẩn sau:
- Một hạch/tổn thương riêng lẻ, phải bất thường với LDi >1,5 cm và tăng ≥50% so với tích số chéo của LDi và đường kính vuông góc (PPD) ở điểm thấp nhất, và tăng LDi hoặc trục ngắn nhất vuông góc với LDi (SDi) từ điểm thấp nhất là 0,5 cm đối với các tổn thương ≤2 cm, hoặc 1,0 cm đối với các tổn thương >2 cm
- Chiều dài lách trong trường hợp lách to phải tăng >50% so với mức tăng trước đó vượt quá giá trị ban đầu; hoặc nếu không có lách to trước đó, phải tăng ≥2 cm so với ban đầu
- Lách to tái phát hoặc mới xuất hiện
- Tiến triển mới hoặc rõ ràng của các tổn thương đo được trước đó
- Sự tái phát của các tổn thương đã thuyên giảm trước đó, một hạch mới >1,5 cm ở bất kỳ trục nào hoặc nếu <1,0 cm ở bất kỳ trục nào, sự hiện diện của nó phải không rõ ràng và phải được quy cho bệnh lymphôm, hoặc tổn thương có thể đánh giá ở bất kỳ kích thước nào có thể quy cho bệnh lymphôm, và/hoặc
- Tổn thương tủy xương mới xuất hiện hoặc tái phát
Thang đo 5 điểm PET (5-PS) dựa trên đánh giá trực quan về sự hấp thu FDG ở các vị trí tổn thương so với gan và trung thất:
|
1 |
Không hấp thu FDG |
|
2 |
Hấp thu ≤ trung thất |
|
3 |
HJấp thu > trung thất nhưng ≤ gan |
|
4 |
Hấp thu trung bình và > gan |
|
5 |
Hấp thu cao hơn rõ rệt so với gan và/hoặc có tổn thương mới |
|
X |
Có vùng mới tăng hấp thu không liên quan đến lymphôm |
Chuyển dạng mô học
Chuyển dạng mô học thành DLBCL có thể xảy ra với FL hoặc MZL. Chuyển dạng mô học của FL hoặc MZL thành DLBCL sau khi điều trị tối thiểu hoặc không điều trị trước đó, có thể được điều trị với các phác đồ hóa trị dựa trên anthracycline được khuyến cáo dành cho điều trị bước một DLBCL, trừ khi có chống chỉ định, kèm hoặc không kèm với ISRT. Bệnh nhân mắc FL hoặc MZL thể hạch với điều trị tối thiểu hoặc không điều trị trước đó, với chuyển dạng mô học thành DLBCL có thể được theo dõi hoặc tham gia vào thử nghiệm lâm sàng, nếu đáp ứng hoàn toàn với điều trị ban đầu, hoặc có thể được điều trị bước hai nếu có đáp ứng một phần hoặc không đáp ứng với điều trị ban đầu.
Bệnh nhân mắc FL hoặc MZL thể hạch có chuyển dạng mô học thành DLBCL sau nhiều bước điều trị trước đó, bao gồm ≥2 phác đồ hóa miễn dịch dành cho bệnh diễn tiến chậm hoặc bệnh chuyển dạng, có các lựa chọn điều trị sau:
- Đăng ký tham gia thử nghiệm lâm sàng hoặc
- Điều trị với phác đồ toàn thân được lựa chọn cá thể hóa tùy thuộc vào việc có hay không có ý định tiến hành ghép tủy và tiền sử điều trị trước đó, có hoặc không có ISRT: hoặc
- Có ý định tiến hành ghép tủy: RCHOP, DHA, GDP, ICE
- Không có ý định tiến hành ghép tủy: RCHOP, polatuzumab vedotin ± bendamustine ± rituximab, tafasitamab + lenalomide, CEOP, GDP ± rituximab, GemOx ± rituximab, loncastuximab tesirine, selinexor
- Liệu pháp tế bào T CAR (ví dụ: axicabtagene ciloleucel, lisocabtagene maraleucel, tisagenlecleucel) hoặc
- Liệu pháp kháng thể đặc hiệu kép hoặc
- ISRT dành cho các tổn thương tại chỗ, bệnh bulky và/hoặc tổn thương xương giới hạn hoặc
- Được quản lý với chăm sóc nâng đỡ tốt nhất
