Lymphôm không Hodgkin Xử trí

Cập nhật: 12 November 2025

Đánh giá

Các chỉ số sau đây cung cấp thông tin tiên lượng hữu ích, có thể được sử dụng để hướng dẫn quyết định điều trị:

Chỉ số tiên lượng quốc tế (IPI)

Các yếu tố nguy cơ bao gồm:
  • Tuổi >60
  • Tăng LDH huyết thanh
  • Tình trạng hoạt động cơ thể theo Nhóm Ung thư Hợp tác Đông phương (ECOG) (PS) 2-4
  • Giai đoạn III-IV theo Ann Arbor
  • Tổn thương >1 vị trí hạch
Nhóm nguy cơ (tất cả bệnh nhân):
  • 0-1 yếu tố nguy cơ: Thấp
  • 2 yếu tố nguy cơ: Trung bình – thấp
  • 3 yếu tố nguy cơ: Trung bình – cao
  • 4 hoặc 5 yếu tố nguy cơ: Cao
Nhóm nguy cơ đối với bệnh nhân ≤60 tuổi (các yếu tố nguy cơ: giai đoạn III-IV theo Ann Arbor, LDH huyết thanh tăng, ECOG PS 2-4):
  • 0 yếu tố nguy cơ: Thấp
  • 1 yếu tố nguy cơ: Trung bình – thấp
  • 2 yếu tố nguy cơ: Trung bình – cao
  • 3 yếu tố nguy cơ: Cao
Nhóm nguy cơ đối với bệnh nhân mắc DLBCL giai đoạn I hoặc II:
  • 0 hoặc 1 yếu tố nguy cơ: Thấp
  • 2-4 yếu tố nguy cơ: Cao
Mạng lưới Ung thư Toàn diện Quốc gia (NCCN) - Chỉ số tiên lượng quốc tế (IPI)

Các yếu tố nguy cơ:
  • 1 điểm:
    • Tuổi từ >40 đến ≤60
    • LDH huyết thanh tăng >1 đến ≤3 lần giá trị bình thường
    • ECOG PS ≥2
    • Giai đoạn III-IV theo Ann Arbor
    • Có tổn thương ngoài hạch
  • 2 điểm
    • Tuổi từ >60 đến <75
    • LDH huyết thanh tăng >3 lần giá trị bình thường
  • 3 điểm: Tuổi ≥75
Nhóm nguy cơ:
  • 0-1 yếu tố nguy cơ: Thấp
  • 2-3 yếu tố nguy cơ: Trung bình – thấp
  • 4-5 yếu tố nguy cơ: Trung bình – cao
  • ≥6 yếu tố nguy cơ: Cao
Tiêu chuẩn GELF (Groupe d’Etude des Lymphômes Folliculaires)
  • Tổn thương ≥3 vị trí hạch, mỗi hạch có đường kính ≥3 cm
  • Bất kỳ hạch/khối ngoài hạch ≥7 cm
  • Giảm tế bào máu (bạch cầu <1,0 x 109/L, tiểu cầu <100 x 109/L)
  • Có triệu chứng toàn thân
  • Lách to
  • Tràn dịch màng phổi/Báng bụng
  • Bệnh bạch cầu (> 5,0 x 109/L tế bào ác tính)
Tiêu chuẩn Chỉ số tiên lượng quốc tế dành cho lymphôm nang (FLIPI)
  • ECOG PS >1
  • Nồng độ LDH/β2-microglobulin huyết thanh > giới hạn trên của mức bình thường (ULN)
  • Nồng độ hemoglobin <12 g/dL
  • ≥60 tuổi
  • Giai đoạn III-IV theo Ann Arbor
  • Tổn thương ≥5 vị trí hạch
Nhóm tiên lượng

Diễn tiến chậm
  • Lymphôm tương bào lympho (bệnh tăng globulin đại phân tử Waldenstrom)
  • Lymphôm tế bào lớn không biệt hóa nguyên phát ở da
  • FL
  • HCL
  • MZL (ngoài hạch, hạch, lách)
  • MF/SS
  • T-LGLL
Diễn tiến nhanh
  • DLBCL
  • Lymphôm tế bào lớn dạng nang
  • ALCL
  • ENKL
  • Lymphôm dạng hạt
  • Lymphôm nguyên bào lympho
  • ATLL
  • MCL
  • Lymphôm mô bào thật
  • Lymphôm tràn dịch nguyên phát
  • Lymphôm tế bào T nguyên bào miễn dịch-mạch máu
  • PTCL
  • Lymphôm liên quan đến AIDS
  • BL/Lymphôm tế bào nhỏ lan tỏa không chia
  • EATL
  • Rối loạn tăng sinh lympho đa dạng sau ghép
  • Lymphôm tế bào B lớn ở trung thất (lymphôm tế bào B lớn nguyên phát ở trung thất)
  • Lymphôm tế bào B lớn nội mạch (tăng sinh lympho nội mạch)

Điều trị bằng thuốc

Các phác đồ hóa trị tiêu chuẩn

CHOP (cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine và prednisone)

CHOP (cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine và prednisone) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước một dành cho ALCL, PTCL không xác định (NOS), PTCL thể hạch, EATL, MEITL, AITL, FTCL và ATLL ở những bệnh nhân không dung nạp được phác đồ điều trị tích cực, hoặc những bệnh nhân mắc ATLL không có biểu hiện CD30, và trong điều trị ban đầu dành cho những bệnh nhân mắc ALCL da nguyên phát có tổn thương hạch vùng. Khi kết hợp với etoposide (CHOEP), CHOP được sử dụng trong điều trị bước một dành cho ALCL, PTCL-NOS, PTCL thể hạch, EATL, MEITL, AITL, FTCL và ATLL, là điều trị bước một hoặc bổ sung dành cho những bệnh nhân mắc HSTCL, là điều trị ban đầu dành cho những bệnh nhân mắc ALCL da nguyên phát có tổn thương hạch vùng; và là điều trị bước một dành cho những bệnh nhân mắc SPTCL có hội chứng thực bào máu (HLH), có bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn. Phối hợp với obinutuzumab hoặc rituximab được khuyến cáo là một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị FL bước một và bước hai. Phối hợp với rituximab được khuyến cáo là một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị MZL bước một, bước hai và các bước tiếp theo.

RCHOP (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine và prednisone)

RCHOP (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine và prednisone) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước một và bước hai dành cho bệnh nhân FL, MZL; trong điều trị bước một dành cho lymphôm tế bào B lớn trung thất nguyên phát (PMBL) và DLBCL; và trong hóa miễn dịch đồng thời dành cho PTLD đơn hình và đa hình. R-mini-CHOP có thể được sử dụng dành cho bệnh nhân DLBCL rất yếu và trên 80 tuổi có bệnh lý đi kèm, cũng như cho bệnh nhân yếu hoặc lớn tuổi mắc lymphôm tế bào B grade cao (HGBL) có tái sắp xếp MYCBCL2, có hoặc không có tái sắp xếp BCL6. Liệu pháp này được khuyến cáo trong điều trị tấn công tích cực, xen kẽ với RDHAP, và trong điều trị tấn công ít tích cực hơn đối với MCL. Phác đồ CHOP tăng liều (maxi-CHOP) xen kẽ với rituximab và cytarabine liều cao (phác đồ NORDIC) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị tấn công tích cực đối với MCL.

Lựa chọn điều trị dành cho HGBL có tái sắp xếp MYCBCL2, có hoặc không có sự tái sắp xếp BCL6. Phác đồ phối hợp với doxorubicin liposomal (RCDOP) có thể được dùng làm điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân DLBCL có chức năng thất trái kém, suy nhược hoặc trên 80 tuổi có bệnh lý đi kèm. Đây là một trong những lựa chọn điều trị ưu tiên nếu chưa được chỉ định trước đó ở bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, không đáp ứng với điều trị, hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch. Phác đồ này được sử dụng dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn I diễn tiến nhanh/giai đoạn II có hạch liền kề (4-6 chu kỳ), NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề diễn tiến chậm, và NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề diễn tiến nhanh. Các nghiên cứu khuyến cáo phác đồ 3-6 chu kỳ ở bệnh nhân mắc NHL giai đoạn I diễn tiến nhanh và giai đoạn II có hạch liền kề, khi được kết hợp với IF-XRT. Các nghiên cứu đã cho thấy đáp ứng điều trị tốt hơn (tăng tỷ lệ sống còn không biến cố và sống còn toàn bộ) với R-CHOP so với CHOP ở bệnh nhân >60 tuổi mắc DLBCL giai đoạn tiến xa.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 1Non-Hodgkins Lymphoma_Management 1


CVP (cyclophosphamide, vincristine và prednisone/prednisolone)

CVP (cyclophosphamide, vincristine và prednisone/prednisolone) phối hợp với rituximab được khuyến cáo là một trong những điều trị ưu tiên dành cho MZL ở bước đầu, bước hai và các bước tiếp theo. Bệnh nhân có thể được dùng rituximab như một liệu pháp duy trì sau điều trị. Phối hợp với obinutuzumab hoặc rituximab được khuyến cáo là một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị FL ở bước đầu và bước hai.

R-CVP (rituximab, cyclophosphamide, vincristine, và prednisone)

R-CVP (rituximab, cyclophosphamide, vincristine và prednisone) được khuyến cáo dành cho bệnh nhân NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề diễn tiến chậm, và trong điều trị bước một và bước hai dành cho bệnh nhân mắc FL và MZL. Đây là một lựa chọn điều trị đồng thời dành cho bệnh nhân có thể trạng yếu mắc PTLD đơn hình và đa hình, không dung nạp với anthracycline. Việc bổ sung gemcitabine (RGCVP) hoặc etoposide (RCEOP) vào phác đồ phối hợp này có thể được sử dụng như điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc DLBCL có chức năng thất trái kém. RGCVP cũng có thể được sử dụng dành cho bệnh nhân rất yếu và bệnh nhân >80 tuổi có bệnh lý đi kèm. RCEOP có thể được sử dụng như điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL không có ý định tiến hành ghép tủy, và điều trị đồng thời dành cho bệnh nhân có thể trạng yếu mắc PTLD đơn hình và đa hình, không dung nạp với anthracycline.

R-ACVBP (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vindesine, bleomycin và prednisone)

R-ACVBP (rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, vindesine, bleomycin và prednisone) có thể được sử dụng dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn I diễn tiến nhanh/giai đoạn II có hạch liền kề.

EPOCH (etoposide, prednisone, vincristine, cyclophosphamide, doxorubicin)

EPOCH (etoposide, prednisone, vincristine, cyclophosphamide, doxorubicin) là điều trị bước đầu được khuyến cáo dành cho ALCL, PTCL-NOS, PTCL thể hạch, EATL, MEITL, AITL, FTCL, ATLL và là lựa chọn điều trị bước đầu/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL.

EPOCH-R (etoposide, prednisone, vincristine, cyclophosphamide, doxorubicin) + rituximab (điều chỉnh liều)

EPOCH-R (etoposide, prednisone, vincristine, cyclophosphamide, doxorubicin) + rituximab (điều chỉnh liều) được khuyến cáo trong các trường hợp sau:
  • Điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc PMBL, DLBCL, PTCL và BL
  • Điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc BL kết hợp với methotrexate tiêm nội tủy.
EPOCH-R cũng có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc DLBCL có chức năng thất trái kém; và bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn; điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL không có ý định tiến hành ghép tủy, và dành cho HGBL có chuyển đoạn MYCBCL2 và/hoặc BCL6 hoặc NOS. Phác đồ này có thể được dùng làm điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc BL tái phát >6-18 tháng sau điều trị bước đầu phù hợp, và nếu chưa được điều trị trước đó.

SMILE (steroid [dexamethasone], methotrexate, ifosfamide, pegaspargase, etoposide) (hiệu chỉnh)

SMILE (steroid [dexamethasone], methotrexate, ifosfamide, pegaspargase, etoposide) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị tấn công dành cho ENKL giai đoạn tiến xa.

Các phối hợp hóa trị khác

AspaMetDex (pegaspargase, methotrexate, dexamethasone)

AspaMetDex (pegaspargase, methotrexate, dexamethasone) là một lựa chọn điều trị tấn công dành cho ENKL.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 2Non-Hodgkins Lymphoma_Management 2


Bendamustine/bortezomib, rituximab

Bendamustine/bortezomib và rituximab là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho MCL và MZL, nếu chưa được điều trị với bendamustine. Phối hợp bendamustine/rituximab là một lựa chọn điều trị tấn công tích cực và ít tích cực dành cho MCL.

CEOP (cyclophosphamide, etoposide, vincristine, prednisone) ± rituximab

CEOP (cyclophosphamide, etoposide, vincristine, prednisone) ± rituximab là một trong những lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, có chống chỉ định ghép tủy và không đáp ứng với điều trị, hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa trị miễn dịch, và trước đó đã được điều trị với phác đồ có anthracycline.

CODOX-M (cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, methotrexate and cytarabine tiêm nội tủy)

Theo sau là methotrexate và rituximab toàn thân, CODOX-M (cyclophosphamide, doxorubicin, vincristine, methotrexate and cytarabine tiêm nội tủy) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc BL <60 tuổi có nguy cơ thấp. Theo sau là methotrexate toàn thân xen kẽ với ifosfamide, cytarabine, etoposide và methotrexate nội tủy (IVAC) + rituximab, được khuyến cáo sử dụng trong điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc BL <60 tuổi có nguy cơ cao. Phối hợp với rituximab và etoposide được khuyến cáo sử dụng trong điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc HGBL.

DHAX (dexamethasone, cytarabine, oxaliplatin) ± rituximab

DHAX (dexamethasone, cytarabine, oxaliplatin) ± rituximab được khuyến cáo trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MCL, và điều trị bước hai cho bệnh nhân mắc DLBCL, PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL có ý định tiến hành ghép tủy và ATLL. Đây là một trong những lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, không đáp ứng với điều trị, hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch, và đã được điều trị trước đó với phác đồ có anthracycline. Đây là lựa chọn điều trị bước một/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL, và cũng được sử dụng dành cho bệnh nhân mắc ENKL tái phát/kháng trị.

ESHAP (etoposide, methylprednisolone, cytarabine, cisplatin) ± rituximab

ESHAP (etoposide, methylprednisolone, cytarabine, cisplatin) ± rituximab là điều trị bước hai được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, ATLL và ENKL, không bao gồm rituximab, và có ý định tiến hành ghép tủy. Phác đồ này có thể được sử dụng làm điều trị bước một dành cho bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn, không bao gồm rituximab.

FMC (fludarabine, mitoxantrone, cyclophosphamide)

FMC (fludarabine, mitoxantrone, cyclophosphamide) được chỉ định làm điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc T-PLL, theo sau là alemtuzuma.

GDP (gemcitabine, dexamethasone, cisplatin/carboplatin) ± rituximab

GDP (gemcitabine, dexamethasone, cisplatin/carboplatin) ± rituximab là điều trị bước hai được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, ATLL và ENKL, không bao gồm rituximab và có ý định tiến hành ghép tủy. Đây là một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho những bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai ở những bệnh nhân không có ý định tiến hành ghép tủy. GDP được khuyến cáo trong điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc ENKL, kết hợp với pegaspargase (DDGP), không bao gồm rituximab. Phác đồ này có thể kết hợp với rituximab trong điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc BL, khi tái phát >6-18 tháng sau điều trị bước một thích hợp. GDP kèm hoặc không kèm rituximab là một trong những lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, không đáp ứng với điều trị hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa trị miễn dịch, và đã được điều trị bằng phác đồ có anthracycline trước đó.

Gemcitabine, vinorelbine ± rituximab

GemOx (gemcitabine, oxaliplatin) ± rituximab

GemOx (gemcitabine, oxaliplatin) ± rituximab là điều trị bước hai được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MCL, PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, ATLL và ENKL, không bao gồm rituximab, và có ý định tiến hành ghép tủy. Đây là một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân không có ý định tiến hành ghép tủy. GemOx kèm hoặc không kèm rituximab là một trong những lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, có chống chỉ định với ghép tủy, và không đáp ứng với điều trị hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch. GemOx được khuyến cáo kết hợp với pegaspargase (P-GemOx), không bao gồm rituximab, trong điều trị tấn công dành cho ENKL.

GVD (gemcitabine, vinorelbine, liposomal doxorubicin)

GVD (gemcitabine, vinorelbine, liposomal doxorubicin) là một lựa chọn điều trị thay thế được khuyến cáo trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL có ý định tiến hành ghép tủy, và ATLL.

HyperCVAD (cyclophosphamide chia nhỏ liều, vincristine, doxorubicin, dexamethasone) + rituximab

HyperCVAD (cyclophosphamide chia nhỏ liều, vincristine, doxorubicin, dexamethasone) + rituximab có thể được sử dụng như một điều trị tấn công tích cực dành cho bệnh nhân mắc MCL, bệnh nhân <60 tuổi mắc BL và HGBL, xen kẽ với methotrexate liều cao và cytarabine + rituximab. HyperCVAD là điều trị thay thế bước đầu dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ATLL, và là lựa chọn điều trị bước đầu/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL, xen kẽ với methotrexate liều cao và cytarabine.

Ibrutinib, lenalidomide, rituximab

Ibrutinib, lenalidomide và rituximab là lựa chọn điều trị dành cho MCL kháng trị/tái phát.

ICE (ifosfamide, carboplatin, etoposide) ± rituximab (RICE)

ICE (ifosfamide, carboplatin, etoposide) ± rituximab (RICE) có thể được dùng trong điều trị bước đầu dành cho PMBL sau phác đồ RCHOP, là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL, là điều trị bước hai phối hợp với rituximab dành cho bệnh nhân mắc BL tái phát >6-18 tháng sau điều trị bước đầu phù hợp, và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, ATLL và ENKL, không bao gồm rituximab (ICE), và có ý định tiến hành ghép tủy. Đây là một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho bệnh nhân mắc DLBCL. Đây là lựa chọn điều trị bước đầu hoặc bổ sung được ưu tiên dành cho bệnh nhân mắc HSTCL. RICE có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn, không bao gồm rituximab. Có thể kết hợp với dexamethasone (DeVIC), không bao gồm rituximab, kết hợp với xạ trị trong liệu pháp hóa xạ đồng thời như một điều trị tấn công dành cho bệnh nhân mắc ENKL. Phác đồ ICE kèm hoặc không kèm rituximab là một trong những lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc DLBCL xuất phát từ FL và MZL, không đáp ứng với điều trị hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch, và đã được điều trị bằng phác đồ có anthracycline trước đó.

IVAC (ifosfamide, etoposide, cytarabine)

IVAC (ifosfamide, etoposide, cytarabine) là lựa chọn điều trị bước đầu/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL.

IVE (ifosfamide, etoposide, epirubicin)

IVE (ifosfamide, etoposide, epirubicin) là điều trị bước đầu hoặc bổ sung dành cho bệnh nhân có các mô bệnh học PTCL khác (ví dụ PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL) sau khi dùng CHOP xen kẽ với methotrexate liều trung bình.

MINE (mesna, ifosfamide, mitoxantrone, etoposide) ± rituximab

MINE (mesna, ifosfamide, mitoxantrone, etoposide) ± rituximab là điều trị bước hai được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 3Non-Hodgkins Lymphoma_Management 3


Polatuzumab vedotin ± bendamustine ± rituximab

Polatuzumab vedotin ± bendamustine ± rituximab được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL đã trải qua ≥2 bước điều trị trước đó mà không có ý định tiến hành ghép tủy. Đây là điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho bệnh nhân mắc DLBCL.

Pola-R-CHP (polatuzumab vedotin, rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, prednisone)

Pola-R-CHP (polatuzumab vedotin, rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, prednisone) được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước một dành cho bệnh nhân mắc DLBCL. Đây là một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc HGBL có tái sắp xếp gen MYCBCL2, có hoặc không có tái sắp xếp gen BCL6.

PEPC (prednisone, etoposide, procarbazine, cyclophosphamide) ± rituximab

PEPC (prednisone, etoposide, procarbazine, cyclophosphamide) ± rituximab có thể được sử dụng làm điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc MCL, và là điều trị bước một dành cho bệnh nhân mắc DLBCL có chức năng thất trái kém, hoặc bệnh nhân rất yếu và >80 tuổi có bệnh lý đi kèm. Phác đồ này cũng có thể được sử dụng cho bệnh nhân yếu, không dung nạp với anthracycline, mắc PTLD đơn hình và đa hình.

RBAC (rituximab, bendamustine, cytarabine)

RBAC (rituximab, bendamustine, cytarabine) là một lựa chọn điều trị tấn công tích cực dành cho MCL, hoặc là điều trị MCL bước hai và bước tiếp theo cho MCL nếu chưa được sử dụng trước đó.

RDHAP (rituximab, dexamethasone, cytarabine) + platinum (carboplatin, cisplatin hoặc oxaliplatin)

RDHAP (rituximab, dexamethasone, cytarabine) + platinum (carboplatin, cisplatin hoặc oxaliplatin) được khuyến cáo trong điều trị tấn công tích cực dành cho bệnh nhân mắc MCL, xen kẽ với RCHOP; là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL; và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, ATLL và ENKL, không bao gồm rituximab (DHAP). Đây là một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho bệnh nhân mắc DLBCL.

R-FCM (rituximab, fludarabine, cyclophosphamide và mitoxantrone)

R-FCM (rituximab, fludarabine, cyclophosphamide và mitoxantrone) được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề, diễn tiến chậm.

RIVAC (rituximab, ifosfamide, cytarabine, etoposide)

RIVAC (rituximab, ifosfamide, cytarabine, etoposide) có thể được sử dụng trong điều trị bước hai cho BL với tình trạng tái phát >6-18 tháng sau điều trị bước đầu phù hợp.

VR-CAP (bortezomib, rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, prednisone)

VR-CAP (bortezomib, rituximab, cyclophosphamide, doxorubicin, prednisone) là một lựa chọn điều trị tấn công ít tích cực dành cho MCL.

Các tác nhân alkyl hóa

Ví dụ: bendamustine, chlorambucil, cyclophosphamide, ifosfamide, temozolomide

Các tác nhân alkyl hóa có thể được sử dụng phối hợp với vincristine, prednisone, dexamethasone, rituximab, procarbazine, doxorubicin hoặc fludarabine, dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề, diễn tiến chậm. Chlorambucil kèm hoặc không kèm rituximab được khuyến cáo là điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân cao tuổi mắc FL. Cyclophosphamide kèm hoặc không kèm rituximab được khuyến cáo là điều trị bước đầu và bước hai dành cho bệnh nhân cao tuổi mắc FL. Temozolomide được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc MF/SS kháng trị/tái phát, có tổn thương hệ thần kinh trung ương. Thuốc có thể được sử dụng kèm hoặc không kèm corticosteroid.

Bendamustine

Khi kết hợp với obinutuzumab hoặc rituximab, bendamustine được khuyến cáo là một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị bước một và bước hai dành cho bệnh nhân mắc FL. Thuốc này có thể được sử dụng kết hợp với rituximab trong điều trị bước hai và các bước tiếp theo dành cho MCL. Phối hợp bendamustine/rituximab được khuyến cáo là một trong những điều trị ưu tiên bước một dành cho bệnh nhân mắc MZL, và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MZL. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Bendamustine là một lựa chọn điều trị thay thế để điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL, T-PLL và ATLL. Kết hợp với brentuximab vedotin, đây là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL có CD30+ và ALCL.

Chlorambucil

Chlorambucil kèm hoặc không kèm rituximab được sử dụng trong điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân cao tuổi, hoặc bệnh nhân yếu không dung nạp với bất kỳ phác đồ điều trị nào dành cho FL; và là điều trị bước đầu, bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân cao tuổi hoặc bệnh nhân yếu, không dung nạp bất kỳ phác đồ điều trị nào dành cho MZL. Thuốc này được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc MF/SS tái phát/kháng trị.

Cyclophosphamide

Cyclophosphamide kèm hoặc không kèm rituximab là một lựa chọn trong điều trị bước một, bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân cao tuổi, hoặc bệnh nhân yếu không dung nạp với các phác đồ điều trị khác dành cho FL và MZL. Thuốc này được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc MF/SS tái phát/kháng trị. Cyclophosphamide có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế để điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Đây là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo, dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL không đồng ý ghép tủy. Cyclophosphamide đường uống kèm hoặc không kèm corticosteroid có thể được sử dụng là điều trị bước một hoặc bước hai dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL có thiếu máu.

Liệu pháp tế bào lympho mang thụ thể kháng nguyên khảm (CAR) kháng CD19

Axicabtagene ciloleucel

Axicabtagene ciloleucel được khuyến cáo là điều trị bước ba và bước tiếp theo sau ≥2 điều trị toàn thân ở bệnh nhân mắc lymphôm tế bào B lớn tái phát hoặc kháng trị, bao gồm DLBCL không xác định, lymphôm tế bào B lớn trung thất nguyên phát, lymphôm tế bào B grade cao, và DLBCL xuất phát từ FL. Thuốc được khuyến cáo là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL tái phát <12 tháng hoặc bệnh kháng trị nguyên phát, và là điều trị bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL nếu chưa được điều trị trước đó. Axicabtagene ciloleucel được khuyến cáo là một trong những điều trị bước ba hoặc bước tiếp theo được ưu tiên dành cho bệnh nhân mắc FL tái phát/kháng trị sau ≥2 điều trị toàn thân trước đó và MZL.

Brexucabtagene autoleucel

Brexucabtagene autoleucel được khuyến cáo dành cho bệnh nhân trưởng thành mắc MCL tái phát hoặc kháng trị, chỉ sau khi điều trị với hóa miễn dịch và thuốc ức chế BTK.

Lisocabtagene maraleucel

Lisocabtagene maraleucel được chỉ định dành cho bệnh nhân trưởng thành mắc lymphôm tế bào B lớn tái phát hoặc kháng trị sau ≥2 bước điều trị toàn thân, bao gồm lymphôm tế bào B lớn không xác định (bao gồm cả lymphôm tế bào B lớn xuất phát từ lymphôm diễn tiến chậm), lymphôm tế bào B grade cao, lymphôm tế bào B lớn trung thất nguyên phát và FL grade 3B. Thuốc này được khuyến cáo là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL tái phát <12 tháng, hoặc bệnh kháng trị nguyên phát, hoặc không có ý định tiến hành ghép tủy, và là điều trị bước ba và bước tiếp theo nếu chưa được chỉ định trước đó dành cho bệnh nhân DLBCL. Lisocabtagene maraleucel được khuyến cáo là một trong những điều trị bước ba hoặc các bước tiếp theo được ưu tiên dành cho bệnh nhân mắc FL tái phát/kháng trị sau ≥2 bước điều trị toàn thân trước đó. Đây là một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc MCL tái phát/kháng trị sau ≥2 bước điều trị trước đó, bao gồm thuốc ức chế BTK cộng hóa trị.

Tisagenlecleucel

Tisagenlecleucel được khuyến cáo sử dụng ở điều trị bước hai và các bước tiếp theo dành cho bệnh nhân trưởng thành mắc lymphôm tế bào B lớn tái phát hoặc kháng trị sau ≥2 bước điều trị toàn thân, bao gồm DLBCL, NOS và lymphôm tế bào B grade cao và DLBCL xuất phát từ FL; là điều trị bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc FL tái phát hoặc kháng trị sau ≥2 bước điều trị toàn thân và DLBCL nếu chưa được sử dụng trước đó.

Các thuốc chống chuyển hóa (chất tương tự acid folic/purine/pyrimidine)

Ví dụ: 2-chlorodeoxyadenosine, cladribine, cytarabine, fludarabine, gemcitabine, methotrexate, pentostatin, pralatrexate, tazemetostat

Thuốc chống chuyển hóa được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề, diễn tiến chậm. Cladribine là một chất tương tự purine, được khuyến cáo là điều trị khởi đầu dành cho HCL, kèm hoặc không kèm rituximab. Thuốc này có thể được sử dụng là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL và HSTCL kháng trị sau hai phác đồ điều trị bước một. Cytarabine khi kết hợp với rituximab có thể được sử dụng là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc BL tái phát. Fludarabine cũng có thể được kết hợp với chlorambucil. Thuốc này có thể được sử dụng là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL.

Gemcitabine có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Thuốc này được khuyến cáo sử dụng trong điều trị toàn thân bước một dành cho MF/SS, và là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL và ATLL.

Methotrexate có thể được sử dụng làm điều trị chính dành cho những bệnh nhân mắc MF/SS, điều trị chính dành cho những bệnh nhân mắc ALCL nguyên phát ở da, và điều trị toàn thân cho DLBCL có xâm nhập hệ thần kinh trung ương. Methotrexate liều thấp kèm hoặc không kèm corticosteroid có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu dành cho những bệnh nhân mắc T-LGLL, đặc biệt là những bệnh nhân có bệnh tự miễn. Thuốc này có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu dành cho những bệnh nhân mắc SPTCL không có HLH, có gánh nặng bướu thấp, và là điều trị duy trì dành cho những bệnh nhân mắc SPTCL.

Pentostatin là một chất tương tự purin được khuyến cáo dùng cho điều trị ban đầu và bệnh HCL tái phát/kháng trị, kèm hoặc không kèm rituximab, và có thể được sử dụng như một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân MF/SS tái phát/kháng trị. Thuốc này có thể được sử dụng là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL, là điều trị bước hai hoặc bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc T-PLL, và HSTCL kháng trị sau hai phác đồ điều trị bước một.

Pralatrexate có thể được sử dụng như một trong những phác đồ ưu tiên dành cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Đây là một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL; là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL và ATLL; là điều trị toàn thân bước một dành cho bệnh nhân MF/SS; và là điều trị chính dành cho bệnh nhân mắc ALCL nguyên phát ở da. Đây là một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc ENKL tái phát/kháng trị. Pralatrexate kèm hoặc không kèm prednisone có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu và duy trì dành cho bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn; và là điều trị bổ sung dành cho bệnh nhân mắc SPTCL không có HLH và gánh nặng bướu nhỏ, đáp ứng kém với điều trị bước đầu.

Tazemetostat là lựa chọn điều trị bước hai dành cho bệnh nhân cao tuổi hoặc có thể trạng yếu mắc FL, bất kể tình trạng đột biến EZH2; và là lựa chọn điều trị bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc FL tái phát/kháng trị, bất kể tình trạng đột biến EZH2, sau ≥2 bước điều trị toàn thân trước đó, và không đủ điều kiện sử dụng liệu pháp tế bào T CAR, hoặc không có lựa chọn điều trị thay thế nào thỏa đáng.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 4Non-Hodgkins Lymphoma_Management 4


Etoposide

Etoposide là một lựa chọn điều trị dành cho MF/SS tái phát/kháng trị. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Đây là một lựa chọn điều trị thay thế trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL mà không có ý định tiến hành ghép tủy.

Lenalidomide

Lenalidomide được sử dụng trong điều trị bước hai và bước tiếp theo và trong điều trị tấn công ít tích cực hơn dành cho MCL, dưới dạng đơn trị hoặc kết hợp với rituximab. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong các phác đồ thay thế cho điều giảm nhẹ ban đầu ở những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL. Lenalidomide được khuyến cáo trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho những bệnh nhân mắc ATLL, là điều trị bước hai và các bước tiếp theo thay thế dành cho những bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL, mà không có ý định tiến hành ghép tủy và ATLL.

Lenalidomide là một lựa chọn điều trị trong các trường hợp sau:
  • Điều trị bước hai dành cho những bệnh nhân mắc FL khi điều trị bằng kháng thể đơn dòng kháng CD20 không phù hợp
  • Điều trị bước một và bước hai dành cho FL và MZL, kết hợp với rituximab. Phác đồ kết hợp với obinutuzumab cũng có thể được sử dụng. Phối hợp với tafasitamab là một trong những lựa chọn điều trị ưu tiên ở những bệnh nhân chuyển dạng mô học thành DLBCL, có chống chỉ định ghép tủy
  • Điều trị MZL bước một và trong điều trị bước hai dành cho những bệnh nhân mắc DLBCL tế bào B không trung tâm mầm (GCB), được dùng phối hợp với rituximab
    • Điều trị MZL bước hai và bước tiếp theo, đặc biệt ở những bệnh nhân cao tuổi và suy yếu không dung nạp với các phác đồ điều trị khác, được dùng phối hợp với rituximab
    • Phối hợp với obinutuzumab, có thể sử dụng trong điều trị MZL bước hai và bước tiếp theo
Liposomal doxorubicin

Liposomal doxorubicin là một lựa chọn điều trị toàn thân dành cho bệnh MF giai đoạn IB-IV và SS giai đoạn IVA1-IVA2.

Các kháng thể đơn dòng

Alemtuzumab

Alemtuzumab là một lựa chọn điều trị toàn thân dành cho bệnh nhân mắc MF giai đoạn IB-IIA, III; SS giai đoạn IVA1-IVA2 và MF/SS tái phát/kháng trị. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL. Đây là lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL, không đồng ý ghép tạng, ATLL; dùng làm điều trị bước một hoặc bước hai để kiểm soát triệu chứng ở bệnh nhân mắc T-PLL (đường tĩnh mạch, kèm hoặc không kèm với pentostatin); lựa chọn điều trị bước một/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL (kèm với pentostatin); và là điều trị bổ sung hoặc bước hai (nếu chưa từng được sử dụng) dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL không đáp ứng với điều trị bước một.

Avelumab

Avelumab là một trong những lựa chọn điều trị được ưu tiên dành cho bệnh nhân mắc EKNL tái phát/kháng trị.

Brentuximab vedotin

Brentuximab vedotin là lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL CD30+, AITL CD30+, ALCL, ATLL CD30+, ENKL CD30+ và AITL; là điều trị toàn thân bước một dành cho bệnh nhân mắc MF/SS; và là phương pháp điều trị chính ưu tiên dành cho bệnh nhân mắc ALCL nguyên phát ở da. Đây là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL có CD30+ mà không có ý định tiến hành ghép tủy. Khi kết hợp với CHP (cyclophosphamide, doxorubicin, prednisone), brentuximab vedotin được khuyến cáo là điều trị bước một dành cho ALCL, PTCL; là điều trị ban đầu dành cho ATLL CD30+; điều trị chính dành cho bệnh nhân mắc ALCL nguyên phát ở da có tổn thương hạch vùng; và là lựa chọn điều trị bước một/bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL CD30+. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị giảm nhẹ ban đầu dành cho bệnh nhân mắc PTCL CD30+, AITL CD30+ và ALCL. Brentuximab vedotin kết hợp với bendamustine là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL CD30+ và ALCL.

Loncastuximab tesirine

Loncastuximab tesirine là một lựa chọn điều trị thay thế bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL tái phát/kháng trị, đã được điều trị toàn thân ≥2 phác đồ. Thuốc này được sử dụng trong điều trị DLBCL xuất phát từ FL và MZL thể hạch, sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch trước đó.

Mogamulizumab

Mogamulizumab được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc ATLL, và điều trị toàn thân bước một dành cho MF/SS.

Nivolumab

Nivolumab đơn trị liệu hoặc kết hợp với brentuximab vedotin là một lựa chọn điều trị dành cho PMBL và ENKL tái phát/kháng trị.

Obinutuzumab

Obinutuzumab được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc FL trong điều trị củng cố hoặc liều kéo dài bước một và bước hai, và trong điều trị bước hai và bước tiếp theo, kết hợp với bendamustine, CHOP hoặc CVP, ở những bệnh nhân kháng với rituximab. Thuốc này được khuyến cáo là điều trị kéo dài bước hai ở những bệnh nhân mắc MZL đã được điều trị với bendamustine + obinutuzumab, và kháng với rituximab.

Pembrolizumab

Pembrolizumab được chỉ định dành cho những bệnh nhân mắc PMBL, ENKL tái phát/kháng trị và MF giai đoạn IB-IV/SS giai đoạn IVA1-IVA2, là một lựa chọn thay thế trong điều trị bước đầu MF/SS và MF/SS kháng trị/tái phát, cần điều trị toàn thân.

Polatuzumab-vedotin

Polatuzumab-vedotin có thể được sử dụng đơn trị hoặc phối hợp với bendamustine, kèm hoặc không kèm rituximab, như một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm liệu pháp tế bào T CAR, hoặc điều trị bước hai nếu có chống chỉ định ghép tủy ở bệnh nhân mắc DLBCL. Thuốc này có thể được sử dụng đơn trị hoặc phối hợp với bendamustine, kèm hoặc không kèm rituximab, trong điều trị DLBCL xuất phát từ FL và MZL, khi ghép tủy bị chống chỉ định và không đáp ứng với điều trị, hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch.

Rituximab

Rituximab là điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc NHL giai đoạn II/III/IV dương tính với CD20, diễn tiến chậm, không có hạch liền kề. Có thể kết hợp với các thuốc hóa trị khác (bendamustine, cladribine, fludarabine, cyclophosphamide, vincristine, prednisone, doxorubicin, mitoxantrone).

Rituximab được khuyến cáo trong các trường hợp sau:
  • Đối với bệnh nhân mắc NHL giai đoạn I diễn tiến chậm và giai đoạn II có hạch liền kề, thuốc này được xem xét ở những bệnh nhân có chống chỉ định với xạ trị, và những bệnh nhân không đáp ứng với các tác nhân hóa trị và can thiệp khác
  • Điều trị bước một và bước hai dành cho bệnh nhân mắc FL, và bệnh nhân cao tuổi hoặc thể trạng yếu không thể dung nạp với các phác đồ điều trị khác dành cho FL và MZL
  • Điều trị củng cố hoặc liều kéo dài bước một và bước hai dành cho bệnh nhân mắc FL, và là điều trị kéo dài bước một dành cho MZL
  • Điều trị bước một dành cho bệnh nhân mắc MZL lách, ngoài hạch (MALT), MZL thể hạch và điều trị hóa miễn dịch tuần tự dành cho PTLD đơn hình (loại tế bào B) và đa hình
  • Lựa chọn điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc PCBCL có bệnh lan tỏa
  • Điều trị duy trì dành cho bệnh nhân mắc MCL sau điều trị ít tích cực hơn với R-CHOP hoặc bendamustine + rituximab
  • Phối hợp với methotrexate liều cao dành cho PTLD hệ thần kinh trung ương nguyên phát (loại tế bào B)
Các lựa chọn điều trị:
  • Điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc MALT ngoài hạch và MZL thể hạch
  • Điều trị bước hai/ bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MZL có thời gian lui bệnh dài hơn, và điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL không có ý định tiến hành ghép tủy
  • HCL kháng trị/tái phát ở bệnh nhân không thể dùng các thuốc tương tự purine
Rituximab cũng được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc NHL diễn tiến chậm, tái phát. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đáp ứng là 40-50% ở bệnh nhân NHL diễn tiến chậm. Thuốc này này cũng có thể được kết hợp với các thuốc hóa trị khác. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng điều trị duy trì với rituximab cải thiện sống còn toàn bộ ở bệnh nhân mắc FL.

Tafasitamab

Tafasitamab được sử dụng là điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL tái phát/kháng trị, có chống chỉ định với ghép tủy, kết hợp với lenalidomide. Thuốc này cũng được sử dụng để điều trị DLBCL xuất phát từ FL và MZL, khi ghép tủy bị chống chỉ định và không đáp ứng với điều trị, hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch.

Các tác nhân điều trị kháng thể đặc hiệu kép

Epcoritamab-bysp

Epcoritamab-bysp là một trong những tác nhân được ưu tiên sử dụng làm điều trị bước ba và bước tiếp theo ở những bệnh nhân mắc FL sau ≥2 bước điều trị trước đó, những bệnh nhân mắc DLBCL đã được điều trị trước đó với ≥2 phác đồ điều trị toàn thân, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR; và là một lựa chọn điều trị dành cho DLBCL xuất phát từ FL và MZL, đã được điều trị trước đó với ≥2 phác đồ điều trị toàn thân, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR.

Glofitamab-gxbm

Glofitamab-gxbm là một trong những tác nhân được ưu tiên sử dụng làm điều trị bước ba và bước tiếp theo ở những bệnh nhân mắc DLBCL, đã được điều trị trước đó với ≥2 phác đồ điều trị toàn thân, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR; và là một lựa chọn điều trị DLBCL xuất phát từ FL đã được điều trị trước đó với ≥2 liệu pháp điều trị toàn thân, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR.

Mosunetuzumab-axgb

Mosunetuzumab-axgb là một trong những tác nhân được ưu tiên sử dụng làm điều trị bước ba và bước tiếp theo ở những bệnh nhân mắc FL sau ≥2 bước điều trị trước đó.

Các tác nhân chống ung thư khác

Ví dụ: acalabrutinib, alectinib, azacitidine, belinostat, bortezomib, brigatinib, ceritinib, crizotinib, dabrafenib, denileukin diftitox, duvelisib, ibrutinib, lorlatinib, pirtobrutinib, romidepsin, ruxolitinib, selinexor, trametinib, umbralisib, vemurafenib, venetoclax, vorinostat, zanubrutinib

Có những nghiên cứu đang được tiến hành để đánh giá việc sử dụng các thuốc này dành cho các loại ung thư khác.

Acalabrutinib

Acalabrutinib được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MZL và MCL. Acalabrutinib kết hợp với rituximab là một lựa chọn điều trị tấn công ít tích cực hơn ở bệnh nhân mắc MCL, và là điều trị duy trì sau điều trị liều cao (HDT) hoặc liệu pháp ghép tế bào gốc tự thân (ASCRT), hoặc điều trị tấn công tích cực ở bệnh nhân mắc MCL.

Alectinib

Alectinib là một phác đồ thay thế trong điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính. Đây là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính.

Azacitidine

Azacitidine có thể được sử dụng là một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch và FTCL. Đây là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch và FTCL.

Belinostat

Belinostat là một trong những lựa chọn ưu tiên trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL; và là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho ALCL, ATLL và ENKL. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ ưu tiên trong điều trị giảm nhẹ ban đầu dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL; và là phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu dành cho ALCL.

Bexarotene

Bexarotene là một lựa chọn điều trị toàn thân dành cho MF giai đoạn IB-III. Bexarotene kèm hoặc không kèm prednisone có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu dành cho bệnh nhân mắc SPTCL không có HLH và có gánh nặng bướu thấp, và là điều trị duy trì dành cho bệnh nhân mắc SPTCL.

Bortezomib

Bortezomib có thể được sử dụng đơn độc hoặc phối hợp với rituximab trong điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc MCL, lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc MF/SS tái phát/kháng trị, là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL không đồng ý ghép tủy, và dành cho bệnh nhân mắc ATLL. Thuốc này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL.

Brigatinib

Brigatinib là một phác đồ thay thế trong điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính. Đây là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính.

Ceritinib

Ceritinib là một phác đồ thay thế trong điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính. Đây là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính.

Crizotinib

Crizotinib là một phác đồ thay thế trong điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính. Đây là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân ALCL có ALK dương tính.

Dabrafenib

Dabrafenib kết hợp với trametinib là một trong những lựa chọn điều trị ưu tiên ở những bệnh nhân mắc HCL tái phát/kháng trị với thời gian tái phát <2 năm hoặc hồi phục huyết học không hoàn toàn, có chỉ định điều trị sau liệu pháp ban đầu, nếu chưa được điều trị trước đó với thuốc ức chế BRAF; và ở những bệnh nhân mắc HCL tiến triển sau khi tái phát/kháng trị, nếu chưa được điều trị trước đó với thuốc ức chế BRAF.

Denileukin diftitox

Denileukin diftitox là một lựa chọn điều trị toàn thân dành cho bệnh MF giai đoạn IB-III.

Duvelisib

Duvelisib có thể được sử dụng như một trong những phác đồ ưu tiên dành cho điều giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL; và như một phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL. Đây là một trong những lựa chọn điều trị ưu tiên trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL. Duvelisib kết hợp với romidepsin là một điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL với mục đích tiến hành ghép tủy; và điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 5Non-Hodgkins Lymphoma_Management 5


Ibrutinib

Ibrutinib được khuyến cáo trong các trường hợp sau:
  • Điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MCL có thời gian đáp ứng ngắn với điều trị hóa miễn dịch trước đó. Có thể kết hợp với rituximab hoặc venetoclax.
  • Điều trị bước hai dành cho MZL
Ibrutinib là một lựa chọn điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc DLBCL không GCB, không có ý định tiến hành ghép tủy, và trong điều trị HCL tiến triển sau tái phát/kháng trị. Ibrutinib kết hợp với rituximab là một lựa chọn điều trị duy trì sau HDT hoặc ASCRT hoặc điều trị tấn công tích cực ở bệnh nhân mắc MCL. Phác đồ này liên quan đến sự gia tăng thoáng qua số lượng tế bào lympho, xuất huyết độ 2 và tăng huyết áp.

Lorlatinib

Lorlatinib là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc ALCL có ALK dương tính.

Pirtobrutinib

Pirtobrutinib là một lựa chọn điều trị bước hai dành cho bệnh nhân mắc MZL tái phát/kháng trị sau khi đã điều trị với thuốc ức chế BTK cộng hóa trị, và dành cho bệnh nhân mắc MCL có bệnh tiến triển sau khi đã điều trị với thuốc ức chế BTK cộng hóa trị. Đây là một trong những phác đồ ưu tiên dành cho bệnh nhân cao tuổi, hoặc bệnh nhân yếu, không dung nạp với các phác đồ điều trị khác.

Romidepsin

Romidepsin có thể được sử dụng như một trong những phác đồ ưu tiên cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL; và là một phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc ALCL. Thuốc này được chỉ định dành cho bệnh nhân lymphôm tế bào T ở da; điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL; là điều trị toàn thân bước một dành cho bệnh nhân MF/SS hoặc bệnh nhân EKNL tái phát/kháng trị. Romidepsin kết hợp với duvelisib là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho PTCL-NOS, EATL, MEITL với mục đích tiến hành ghép tủy; và là điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Romidepsin kèm hoặc không kèm prednisone có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu và duy trì dành cho bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn; và là điều trị bổ sung dành cho bệnh nhân mắc SPTCL không có HLH và có gánh nặng bướu thấp, có đáp ứng không đầy đủ với điều trị bước đầu.

Ruxolitinib

Ruxolitinib có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Đây là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL, ALCL và T-PLL. Thuốc này có thể được sử dụng như điều trị bổ sung hoặc bước hai (nếu chưa được sử dụng trước đó) dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL không đáp ứng với điều trị bước một.

Selinexor

Selinexor là lựa chọn điều trị bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc DLBCL, sau ≥2 phác đồ điều trị toàn thân trước đó, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR. Đây là lựa chọn điều trị dành cho DLBCL xuất phát từ FL, khi có chống chỉ định với ghép tủy, và không đáp ứng với điều trị hoặc bệnh tiến triển sau ≥2 phác đồ hóa miễn dịch, bao gồm cả những bệnh nhân có bệnh tiến triển sau khi ghép tủy hoặc liệu pháp tế bào T CAR.

Trametinib

Trametinib kết hợp với dabrafenib là một trong những lựa chọn điều trị ưu tiên ở những bệnh nhân mắc HCL tái phát/kháng trị, với thời gian tái phát <2 năm, hoặc phục hồi huyết học không hoàn toàn; có chỉ định điều trị sau liệu pháp ban đầu, nếu chưa được điều trị trước đó với thuốc ức chế BRAF; và ở những bệnh nhân mắc HCL tiến triển , sau khi điều trị bệnh tái phát/kháng trị, nếu chưa được điều trị trước đó với thuốc ức chế BRAF.

Vemurafenib

Vemurafenib kèm hoặc không kèm kháng thể đơn dòng có thể được sử dụng làm điều trị ban đầu dành cho bệnh nhân mắc HCL không thích hợp dùng các chất tương tự purine, bao gồm những bệnh nhân yếu và đang bị nhiễm trùng hoạt động. Vemurafenib kèm hoặc không kèm rituximab có thể được sử dụng để điều trị HCL tái phát/kháng trị với thời gian tái phát ≥2 năm ở những bệnh nhân không đủ điều kiện sử dụng các chất tương tự purine, bao gồm những bệnh nhân yếu và đang bị nhiễm trùng hoạt động, hoặc bị tái phát <2 năm, hoặc phục hồi huyết học không hoàn toàn và có chỉ định điều trị sau liệu pháp ban đầu, và điều trị bệnh tiến triển sau khi điều trị bệnh tái phát/kháng trị .

Venetoclax

Venetoclax là một lựa chọn trong phác đồ điều trị MCL bước hai, kèm hoặc không kèm rituximab hoặc ibrutinub. Venetoclax kèm hoặc không kèm rituximab là một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc HCL tiến triển sau khi điều trị bệnh tái phát/kháng trị, và kháng với thuốc ức chế BRAF.

Vorinostat

Vorinostat được khuyến cáo sử dụng trong điều trị toàn thân bước đầu dành cho MF/SS.

Zanubrutinib

Zanubrutinib được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc MCL và MZL tái phát/kháng trị sau ít nhất một phác đồ có kháng thể đơn dòng kháng CD20 trước đó. Zanubrutinib kết hợp với obinutuzumab được khuyến cáo sử dụng trong điều trị bước ba và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc FL tái phát/kháng trị, như chất ức chế tyrosinkinase Bruton sau ≥2 phác đồ điều trị toàn thân trước đó. Zanubrutinib kết hợp với rituximab là một lựa chọn điều trị duy trì sau HDT hoặc ASCRT hoặc điều trị tấn công tích cực ở bệnh nhân mắc MCL. Đây là một lựa chọn điều trị dành cho bệnh nhân mắc HCL tiến triển sau khi điều trị bệnh tái phát/kháng trị.

Thuốc điều trị trực tiếp tổn thương da

Các thuốc điều trị trực tiếp tổn thương da được sử dụng dành cho lymphôm tế bào B và tế bào T nguyên phát ở da. Các thuốc bôi ngoài da được khuyến cáo bao gồm carmustine, corticosteroid, imiquimod, mechlorethamine và retinoid (ví dụ: acitretin, bexarotene, isotretinoin, tazarotene). Đối với tổn thương da lan tỏa: corticosteroid, mechlorethamine. Thuốc ức chế calcineurin bôi ngoài da (ví dụ: pimecrolimus) có thể được sử dụng dành cho bệnh nhân mắc MF/SS ở vùng da quanh miệng và quanh hốc mắt, là một phương pháp điều trị không dùng steroid.

Các tác nhân điều trị khác

Zidovudine có thể được sử dụng làm điều trị ban đầu/bước đầu dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng; là điều trị bổ sung dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng nếu có đáp ứng với các điều trị ban đầu; và là điều trị bước hai hoặc bước tiếp theo dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng. Arsenic trioxide có thể được sử dụng làm điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho ATLL.

Interferon alfa/gamma-1b là một lựa chọn điều trị toàn thân dành cho bệnh nhân mắc MF/SS; và là điều trị chính dành cho bệnh nhân mắc ALCL da nguyên phát; và là điều trị ban đầu/bước đầu dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng; là điều trị bổ sung dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng nếu có đáp ứng với điều trị ban đầu; và là điều trị bước hai hoặc bước tiếp theo dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng. Peginterferon-alfa 2a có thể được sử dụng dành cho HCL tái phát/kháng trị ở những bệnh nhân tái phát <2 năm hoặc hồi phục huyết học không hoàn toàn, có chỉ định điều trị sau liệu pháp ban đầu. Thuốc này có thể được sử dụng làm điều trị ban đầu/bước đầu, bước hai hoặc bước tiếp theo dành cho ATLL cấp tính, mạn tính hoặc tiềm tàng.

Ciclopsorin có thể được sử dụng như một phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch và FTCL. Đây là điều trị thay thế bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc AITL, PTCL thể hạch và FTCL mà không có ý định tiến hành ghép tủy. Ciclopsorin kèm hoặc không kèm corticosteroid có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu hoặc bước hai dành cho bệnh nhân mắc T-LGLL kèm thiếu máu. Ciclopsorin kèm hoặc không kèm prednisone có thể được sử dụng làm điều trị bước đầu và duy trì dành cho bệnh nhân mắc SPTCL.

Điều trị nâng đỡ

Giảm tế bào máu tự miễn

Các dạng phổ biến nhất ở bệnh nhân mắc NHL bao gồm thiếu máu tán huyết tự miễn, ban xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch và bất sản nguyên hồng cầu. Điều trị bao gồm sử dụng corticosteroid; rituximab, IVIg hoặc cyclosporin có thể được dùng cho những bệnh nhân không đáp ứng với liệu pháp corticosteroid, và eltrombopag hoặc romiplostim có thể được sử dụng để điều trị giảm tiểu cầu ở những bệnh nhân mắc ITP kháng steroid, IVIg hoặc cắt lách. Cắt lách cũng có thể được xem xét cho những bệnh nhân kháng steroid.

Nhiễm trùng/Tái hoạt hóa

Tái hoạt hóa cytomegalovirus (CMV)

Tái hoạt hóa cytomegalovirus (CMV) xảy ra ở 25% bệnh nhân đang điều trị với alemtuzumab. Nguy cơ tái hoạt hóa tăng lên ở những bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế phosphoinositide 3-kinase (PI3K) (ví dụ: duvelisib ± romidepsin) hoặc kháng thể kháng CD52 (ví dụ: alemtuzumab). Có thể cân nhắc dự phòng bằng ganciclovir ở những bệnh nhân có tải lượng virus tăng trong quá trình điều trị.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 6Non-Hodgkins Lymphoma_Management 6


Virus viêm gan B

Nguy cơ tái hoạt hóa HBV tăng ở những bệnh nhân đang điều trị với kháng thể đơn dòng kháng CD20. Khuyến cáo dự phòng bằng entecavir dành cho những bệnh nhân đang điều trị thuốc gây độc tế bào có kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) dương tính, HBsAg âm tính nhưng kháng thể lõi viêm gan B (HBcAb) dương tính, hoặc nồng độ HBsAb tăng kèm theo tải lượng HBV DNA tăng. Lamivudine không được khuyến cáo dùng để thay thế do nguy cơ kháng thuốc tăng. Adefovir, telbivudine và tenofovir có thể được sử dụng thay thế cho entecavir. Tải lượng virus nên được theo dõi bằng PCR hàng tháng trong và mỗi 3 tháng sau khi điều trị. Phác đồ dự phòng nên được tiếp tục cho đến 12 tháng sau khi điều trị NHL.

Virus viêm gan C

Virus viêm gan C thường gặp nhất ở bệnh nhân mắc NHL lymphôm tế bào B (ví dụ: DLBCL, MZL). Bệnh nhân có thể được điều trị ban đầu với thuốc kháng virus (ví dụ: pegylated interferon, ribavirin, telaprevir, boceprevir). Thuốc kháng virus tác dụng trực tiếp có thể được kết hợp với liệu pháp ba thuốc kháng virus ở những bệnh nhân NHL tế bào B grade thấp không có triệu chứng và nhiễm viêm gan C.

Virus Herpes simplex (HSV)/virus Varicella zoster (VZV)

Bệnh nhân mắc NHL có nhiều nguy cơ lây lan qua da các bệnh nhiễm virus khu trú như HSV & VZV. Đối với những bệnh nhân thường xuyên tái phát nhiễm HSV, nên cân nhắc điều trị dự phòng bằng acyclovir hoặc thuốc tương đương.

Viêm não chất trắng đa ổ tiến triển (PML)

Viêm não chất trắng đa ổ tiến triển (PML) là một bệnh lý mất myelin do virus polyoma John Cunningham (JC) tiềm ẩn gây nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch. Việc sử dụng brentuximab vedotin và rituximab có liên quan đến tăng nguy cơ mắc PML. Hiện tại chưa có phương pháp điều trị PML hiệu quả, do đó, việc phòng ngừa được khuyến cáo mạnh mẽ. Khuyến cáo nên theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng và xét nghiệm dịch não tủy bằng PCR.

Ngứa da

Đối với ngứa da, nên đến khám bác sĩ da liễu. Sử dụng xà phòng có tính tẩy nhẹ/không có mùi, kem dưỡng ẩm và chất làm mềm có thể giúp giảm khô da.

Các lựa chọn điều trị:
  • Bước đầu: Thuốc kháng histamin, gabapentin, pregabalin
  • Bước hai: aprepitant, mirtazapine, thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI)
  • Bước ba: naltrexone, corticosteroid toàn thân
Non-Hodgkins Lymphoma_Management 7Non-Hodgkins Lymphoma_Management 7


Phản ứng bùng lên của bướu

Phản ứng bùng lên của bướu là một đáp ứng miễn dịch bao gồm lách to, sốt, phát ban, hạch to đau và đau xương. Tình trạng này thường xảy ra ở bệnh nhân mắc CLL đang điều trị với lenalidomide. Khuyến cáo sử dụng corticosteroid để kiểm soát tình trạng viêm và hạch to. Thuốc kháng histamine có thể được sử dụng để kiểm soát ngứa kèm phát ban. Có thể cân nhắc điều trị dự phòng dành cho những bệnh nhân đang điều trị với lenalidomide có nguy cơ bị phản ứng bùng lên của bướu.

Hội chứng ly giải bướu

Hội chứng ly giải bướu là sự phá hủy tế bào thứ phát do hóa trị, gây tăng acid uric máu, tăng kali máu, tăng phosphat máu và hạ canxi máu, có thể dẫn đến suy thận cấp. Tình trạng này xuất hiện 12-72 giờ sau khi bắt đầu hóa trị. Khuyến cáo nên dự phòng trước khi hóa trị, đặc biệt đối với bệnh nhân được điều trị với venetoclax, lenalidomide hoặc obinutuzumab, và bệnh nhân có mô học là BL và LL. Bác sĩ có thể cho dùng allopurinol hoặc febuxostat trước khi bắt đầu hóa trị để kiểm soát nồng độ acid uric. Rasburicase được khuyến cáo dành cho bệnh nhân tăng acid uric máu không đáp ứng với allopurinol, suy thận cấp, bệnh nhân có gánh nặng bướu lớn cần điều trị khẩn cấp, hoặc nếu khó bù đủ dịch. Khuyến cáo theo dõi điện giải huyết thanh, chức năng thận, chức năng tim thường xuyên và bù dịch đầy đủ.

Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch

Có thể ngăn ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng cách dùng aspirin liều thấp ở những bệnh nhân có số lượng tiểu cầu tăng cao hoặc những bệnh nhân đang dùng lenalidomide.

Điều trị không dùng thuốc

Quan sát

Nên áp dụng phương pháp “quan sát và chờ đợi” ở những bệnh nhân không có triệu chứng, có bệnh tại chỗ không tiến triển về mặt lâm sàng, hoặc bệnh tồn lưu sau điều trị. Có thể cân nhắc theo dõi khi độc tính tiềm tàng của ISRT hoặc điều trị toàn thân lớn hơn lợi ích lâm sàng. Bệnh nhân được ưu tiên chuyển đến các chuyên gia xạ trị ung thư.

Liệu pháp quang học

Ví dụ: Tia cực tím B (UVB), UVB dải hẹp (NB-UVB), psoralen kết hợp tia cực tím A (PUVA), tia cực tím A1 (UVA1)

Liệu pháp quang học là một lựa chọn điều trị trực tiếp lên da dành cho bệnh nhân mắc MF/SS. Tia cực tím B hoặc UVB dải hẹp được khuyến cáo dành cho các tổn thương da giới hạn/tại chỗ. UVB, NB-UVB, PUVA hoặc UVA1 có thể được sử dụng cho các tổn thương da lan tỏa.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 8Non-Hodgkins Lymphoma_Management 8


Liệu pháp quang hóa ngoài cơ thể (ECP)

Quang hóa ngoài cơ thể (ECP) chủ yếu dành cho những bệnh nhân mắc MF/SS không phổ biến với tình trạng thiếu máu ở mức độ thấp.

Phẫu thuật

Cấy ghép

Cần có thêm các nghiên cứu để ủng hộ cho việc sử dụng ghép tủy (BMT) ở bệnh nhân mắc NHL có nguy cơ cao. Đây là phương pháp điều trị được lựa chọn dành cho bệnh nhân mắc NHL tái phát diễn tiến nhanh. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống còn được cải thiện (tỷ lệ không bệnh dài hạn 20-40%) ở bệnh nhân nguy cơ cao.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 9Non-Hodgkins Lymphoma_Management 9


Liệu pháp ghép tế bào gốc tự thân (ASCRT) sau điều trị liều cao (HDT) được khuyến cáo trong các trường hợp sau:
  • Điều trị củng cố sau khi điều trị tấn công MCL
  • Điều trị củng cố/bổ sung cho DLBCL và BL có đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn sau điều trị bước hai
  • Điều trị bước hai hoặc liều kéo dài dành cho FL & MZL
Ghép tế bào gốc tạo máu (HCT) tự thân có thể được xem xét trong điều trị củng cố bước một dành cho PTCL. HCT đồng loại có thể được sử dụng trong điều trị củng cố bước hai dành cho BL, DLBCL và MCL; điều trị củng cố bước ba dành cho FL và MZL; điều trị bổ sung dành cho bệnh nhân mắc ATLL cấp tính và mạn tính; điều trị củng cố hoặc bổ sung dành cho bệnh nhân mắc HSTCL; và là điều trị bổ sung dành cho bệnh nhân mắc SPTCL có HLH, bệnh toàn thân hoặc gánh nặng bướu lớn, hoặc SPTCL tái phát/kháng trị. Phương pháp này có thể được xem xét dành cho những bệnh nhân mắc NHL tái phát diễn tiễn chậm và NHL giai đoạn II/III/IV không có hạch liền kề, diễn tiến nhanh. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sống còn không tiến triển của bệnh nhân được điều trị bằng SCT tăng lên so với những bệnh nhân chỉ được điều trị với hóa trị.

Xạ trị

Xạ trị tại chỗ là điều trị ban đầu được khuyến cáo dành cho bệnh nhân mắc bệnh giai đoạn giới hạn vì làm tăng tỷ lệ sống còn ở những bệnh nhân này. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bổ sung xạ trị vào hóa trị ở những bệnh nhân có bệnh bulky dẫn đến cải thiện kết quả điều trị. Các kỹ thuật xạ trị tiên tiến như xạ trị điều biến liều (IMRT), xạ trị điều biến thể tích (VMAT), nín thở hoặc đồng bộ nhịp thở, xạ trị có hướng dẫn hình ảnh (IGRT) và/hoặc liệu pháp proton nên được xem xét trong những trường hợp đặc biệt, khi liều xạ đến các cơ quan cụ thể được giảm xuống trong khi vẫn đạt được mục tiêu chính là kiểm soát bướu tại chỗ.

Xạ trị tại vùng hạch bệnh lý (ISRT) được khuyến cáo dành cho NHL vì nhắm trực tiếp vào các hạch có cấu trúc bị tổn thương và vị trí liên quan đến da ở lymphôm da. Phương pháp này tập trung liều vào các hạch bệnh lý và các mở rộng ngoài hạch, giảm trường chiếu xạ, do đó bảo vệ các cơ quan khác khỏi phơi nhiễm bức xạ không cần thiết. ISRT tại chỗ có thể được sử dụng làm điều trị ban đầu dành cho bệnh nhân mắc PCBCL.

Liều khuyến cáo như sau:
  • FL, MZL: 24-30 Gy
  • MCL: 24-36 Gy
  • DLBCL: 40-55 Gy (điều trị chính); 20-36 Gy (phối hợp với HCT); 30-36 (sau khi đáp ứng hoàn toàn với hóa trị); 36-50 Gy (sau khi đáp ứng một phần với hóa trị); 40-55 Gy (bệnh kháng trị)
  • PTCL: 30-36 Gy (củng cố); 40-50 Gy (bổ sung khi đáp ứng một phần với hóa trị); 40-55 Gy (điều trị ban đầu); 20-36 Gy (phối hợp với HCT)
  • ENKL: 50-55 Gy (điều trị chính); 45-56 Gy (trong điều trị phối hợp)
  • MF/SS có tổn thương da giới hạn hoặc tại chỗ: 8-12 Gy; 24-30 Gy cho biểu hiện tổn thương ở một vùng trên da
  • RT giảm nhẹ: 20-26 Gy trong 15-18 phân liều
  • ALCL da nguyên phát: 24-30 Gy (điều trị chữa khỏi); 2 Gy (giảm nhẹ)
  • SPTCL: 36-45 Gy (điều trị chữa khỏi)
Xạ trị tại vùng hạch bệnh lý (ISRT) là một lựa chọn điều trị bắc cầu cho đến khi có sản phẩm tế bào T CAR dành cho bệnh nhân mắc DLBCL. Điều trị này có thể được sử dụng như một trong những phác đồ thay thế cho điều trị giảm nhẹ ban đầu ở bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch, FTCL và ALCL. Đây là một lựa chọn điều trị bước hai và bước tiếp theo dành cho bệnh nhân mắc PTCL-NOS, EATL, MEITL, AITL, PTCL thể hạch và FTCL mà không có ý định tiến hành ghép tủy, ATLL khu trú có triệu chứng và ENKL. Xạ trị chùm tia ngoài (EBRT) là một lựa chọn điều trị ban đầu dành cho bệnh nhân mắc lymphôm da có tổn thương đơn độc hoặc tại vùng.

Non-Hodgkins Lymphoma_Management 10Non-Hodgkins Lymphoma_Management 10


Liều khuyến cáo như sau:
  • MZL da nguyên phát và lymphôm nguyên phát vùng trung tâm nang: 24-30 Gy
  • MF/SS: 8-12 Gy (tổn thương mảng bám và bướu riêng lẻ); 24-30 Gy (tổn thương biểu hiện ở một vùng của da)
Liệu pháp chùm tia điện tử toàn phần qua da (TSEBT), đơn độc hoặc kết hợp với điều trị bổ trợ, có thể được cân nhắc dành cho MF giai đoạn sớm. Liều khuyến cáo là 12-36 Gy (4-6 Gy/tuần) và ở từng bướu, liều khuyến cáo là 4-12 Gy.